Bệnh thấp khớp (phong thấp)

Thứ ba, ngày 30/06/2015 23:3 PM
Thấp khớp (Rheumatoid Arthritis), hay còn gọi là bệnh phong thấp, là một căn bệnh liên quan đến hệ thống tự miễn dịch (bệnh tự miễn nhiễm). Tìm hiểu các nguyên nhân gây bệnh thấp khớp, các triệu chứng của bệnh, cách điều trị thấp khớp và các bài thuốc chữa bệnh thấp khớp hiệu quả.

Bệnh thấp khớp là gì?

Thấp khớp (Rheumatoid Arthritis), hay còn gọi là bệnh phong thấp, là một căn bệnh liên quan đến hệ thống tự miễn dịch (bệnh tự miễn nhiễm), mà nguyên nhân chính là do sự viêm nhiễm mãn tính phần dịch khớp gây ra, thường đi kèm với các đặc điểm đa hệ khác.

Thấp khớp, phong thấp, hình ảnh thấp khớp
Thấp khớp (Ảnh minh họa)

Chứng bệnh tự miễn nhiễm là trình trạng hệ thống miễn dịch của cơ thể hoạt động chống lại chính các mô tế bào khỏe mạnh của cơ thể. Với bệnh thấp khớp, lớp màng hoạt dịch khớp chính là đối tượng chịu tấn công và bị tổn thương, do chính hệ miễn dịch của cơ thể gây ra.

I. Nguyên nhân gây bệnh thấp khớp

Bệnh thấp khớp có thể do:

1. Độ tuổi: Theo thống kê có khoảng 1/2 số người từ 65 tuổi mắc bệnh viêm khớp, trong khi đó chỉ có 1 trong 250 trẻ em bị bệnh này.

2. Gien: Nếu gia đình có cha mẹ hoặc họ hàng bị bệnh thấp khớp thì nguy cơ mắc bệnh sẽ cao hơn.

3. Giới tính: Các thống kê đã chỉ ra rằng nam giới có nguy cơ mắc bệnh gout cao hơn nữ giới, trong khi đó nữ giới lại dễ mắc bệnh viêm khớp hơn nam giới.

4. Hút thuốc: Các nghiên cứu đã xác nhận mối liên quan trực tiếp giữa hút thuốc và bệnh viêm khớp. Các nghiên cứu tại Thuỵ Điển đã chỉ ra rằng những người hút thuốc làm tăng 21% nguy cơ mắc viêm khớp.

5. Nghề nghiệp: Rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để tìm ra mối liên quan giữa các dạng của bệnh thấp khớp và nghề nghiệp đã thấy rằng những người làm nghề sơn sửa móng tay chân, thợ sơn, thường xuyên sử dụng acetone và thuốc trừ sâu dễ mắc bệnh viêm khớp hơn. Nghiên cứu gần đây tại Thụy Điển chỉ ra rằng những người thường xuyên tiếp xúc với các loại xăng dầu tăng 30% nguy cơ mắc bệnh thấp khớp.

6. Chế độ ăn: Cơ thể thừa cân và béo phì làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp vì thế cần điều chỉnh cân nặng hợp lý. Việc sử dụng thực phẩm giàu chất béo bão hoà, thiếu chất chống ôxy hóa, các vitamin và chất khoáng cần thiết làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

II. Triệu chứng của bệnh thấp khớp

Người bị viêm khớp cảm thấy đau khớp ngay cả lúc nghỉ. Chỗ đau bị sưng và luôn tiết dịch ở bên trong. Khi cố sức cử động để làm việc càng thấy đau hơn. Buổi sáng khi mới ngủ dậy, thường cảm thấy cứng tay, cứng chân. Một lúc sau mới cử động dễ dàng hơn.

Người bị gỉ khớp thường chỉ đau khi lao động, đỡ đau khi nghỉ. Khi cử động các khớp có thể kêu răng rắc, đôi khi lên cơn đau vì bị viêm. Ngoài ra còn có các biểu hiện:

  • Sốt nhẹ
  • Uể oải và mệt mỏi
  • Ăn uống không ngon miệng.
  • Những khớp nhỏ tại ngón tay, ngón chân, bàn tay, bàn chân, cổ tay, khuỷu tay và mắt cá chân bị sưng tấy và đau.
  • Những khớp lớn hơn, chẳng hạn như khớp gối, cũng có thể bị ảnh hưởng..
  • Đau và sưng tấy đồng loạt (cùng vị trí ở cả hai tay, hai chân, v.v…).
  • Khớp dần trở nên tê cứng và có thể xảy ra biến dạng khớp.
  • Sáng sớm khi thức dậy, các khớp thường bị tê cứng và kéo dài hơn 30 phút.
  • Các khớp bị ảnh hưởng trở nên tê cứng, nếu bất động trong một thời gian dài.
  • Xuất hiện những nốt mẩn nhỏ dưới da.

III. Cách điều trị bệnh thấp khớp

Cần đi khám bệnh để bác sĩ xác định nguyên nhân bệnh. Bác sĩ thường yêu cầu đi chụp X-quang khớp và thử máu.

Bệnh viêm khớp có thể do khớp bị nhiễm trùng (bác sĩ có thể chích hút chất dịch ở khớp ra để xét nghiệm), do bị bệnh Gút, bệnh vẩy nến. Phụ nữ thường bị bệnh đa viêm khớp ở bàn tay và ở đầu gối, thường được chữa trị bằng thuốc chống viêm và các loại thuốc có corticoide. Ở đàn ông, hiện tượng đau khớp có thể xảy ra ở tay, đầu gối, cổ chcân và ở cả cột sống, thường được điều trị bằng các thuốc chống viêm, dầu xoa bóp ngâm nước có những tính chất nhất định.

Hiện tượng thoái hóa khớp ở đầu gối, hông, tay và cột xương sống thường được điều trị bằng Aspirine, thuốc chống viêm, cử động liệu pháp, các thuốc xoa bóp, ngâm nước biển, nước suối thích hợp.

Trường hợp bệnh nặng, có khả năng bị tàn tật do khớp đã bị hủy hoại nặng, cần phải mổ để thay thế bằng các khớp nhân tạo (khớp hông, khớp đầu gối).

Người ta sử dụng những phương pháp sau đây đểchữa trịcác triệu chứng thấp khớp:

  • Vật lý trị liệu.
  • Giảm cân.
  • Liệu pháp nóng.
  • Liệu pháp lạnh.
  • Liệu pháp nghề nghiệp.

Cũng có thể sử dụng các loại dược phẩm để chữa trị bệnh thấp khớp. Một số loại dược phẩm thường dùng bao gồm:

  • Thuốc chống viêm không chứa steroid (NSAID)
  • Corticosteroid
  • Thuốc DMARD (thuốc chống thấp khớp thay đổi bệnh)
  • Anti-cytokine (chống phân bào)

Các loại thuốc trên không chỉ chữa trị các triệu chứng, mà còn có thể hạn chế (kìm nén) hệ miễn dịch và làm chậm quá trình phát triển của bệnh.

Điều trị bệnh thấp khớp khá phức tạp và cần phải được giám sát bởi một bác sỹ chuyên điều trị thấp khớp.

Nếu biến dạng khớp xảy ra, thì bệnh nhân sẽ cần phải thực hiện phẫu thuật để chữa trị.

IV. Chuẩn đoán bệnh thấp khớp

Mọi người có thể đến gặp bác sĩ gia đình hoặc bác sĩ chuyên khoa khớp để được chẩn đoán. Bác sĩ chuyên khoa khớp là bác sĩ giúp đỡ những người có vấn đề ở các khớp, xương và cơ. Bệnh thấp khớp có thể khó chẩn đoán vì:

  • Không có xét nghiệm duy nhất nào chẩn đoán được căn bệnh này
  • Các triệu chứng có thể giống như các loại bệnh khớp khác
  • Có thể mất nhiều thời gian để phát triển đầy đủ các triệu chứng.

Để chẩn đoán bệnh thấp khớp, các bác sĩ sử dụng bệnh sử, khám sức khỏe, chụp x-quang và các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm.

V. Phòng ngừa bệnh thấp khớp

Dưới đây là một số cách để chăm sóc bản thân:

  • Duy trì sự cân bằng tốt giữa nghỉ ngơi và tập thể dục
  • Chăm sóc các khớp xương
  • Giảm căng thẳng
  • Thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh.

Người bệnh thấp khớp nên ăn gì?

Những ngày thời tiết lạnh là cơ hội cho bệnh thấp khớp hoành hành. Bác sĩ Nguyễn Lân Đính - Chuyên gia dinh dưỡng - sẽ hướng dẫn những người không may bị căn bệnh này cách ăn uống để phòng và trị bệnh hiệu quả.

Acid béo hệ Omega-3: Acid này có nhiều trong các loại cá giàu chất béo, có khả năng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, làm thuyên giảm các triệu chứng của bệnh.

Một số công trình nghiên cứu khi cho bệnh nhân dùng liều dầu cá từ 2-4g, thậm chí 5g/ngày, đã cho một số kết quả: khớp bớt cứng và ít đau hơn.

Những loại cá giàu acid béo hệ Omega-3 gồm: Cá hồi , cá thu, cá trích, cá mòi, cá ngừ, cá trống. Bên cạnh đó, dầu cá có thể loại bỏ tình trạng cứng khớp buổi sáng và làm giảm số lần đau khớp ở những bệnh nhân viêm khớp mạn tính.

Gần đây, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng, bổ sung dầu cá mỗi ngày có thể giúp nhanh lành các tổn thương dây chằng nhờ vào sự thúc đẩy hình thành các tế bào mới cho các vùng bị tổn thương và nhờ vào sự thúc đẩy nhanh sự tổng hợp chất tạo keo.

Tuy nhiên, bệnh nhân nên xin ý kiến bác sĩ trước khi dùng dầu cá liều cao như trên vì dầu cá ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình đông máu (nhất là khi nhổ răng hay tiểu phẫu).

Acid béo hệ Omega-6 GLA: Là acid có khả năng ngăn chặn tiến trình sản sinh các chất prostaglandin gây chứng viêm. Hai công trình nghiên cứu cũng đã cho kết quả hứa hẹn với liều 1-3g/ngày. Tuy nhiên, không dễ tìm ra nguồn GLA. Dầu anh thảo (Evening primrose oil) có GLA, nhưng giá khá cao.

Ở Việt Nam, có thể tận dụng vi tảo Spirulina (9-11g/kg) dưới dạng viên nang 400mg tảo khô (tên biệt dược Linaforce). Theo lời khuyên của Ripley Fox- những người đầu tiên giới thiệu tảo Spirulina cho Việt Nam, người bị thấp khớp nên dùng 10g bột tảo khô mỗi ngày (tương đương 90mg acid GLA).

Một số bài thuốc dân gian chữa bệnh thấp khớp

1. Lá lốt

Lá lốt 20g, thiên niên kiệm 12g, gai tầm xoong 16g. Sắc với 400ml nước, còn 100ml nước, uống ngày 1 thang.

Lá lốt 20g, cỏ xước 20g, cành dâu 20g, ngải cứu 10g. Tất cả sao qua, sắc mỗi ngày 1 thang, uống trong 4 đến 6 ngày liên tục.

2. Rượu tỏi

Tỏi khô 40g đã bóc vỏ. Thái nhỏ, cho vào lọ rửa sạch ngâm vào rượu gạo 45 độ, 100ml. Ngâm 15 ngày, thỉnh thoảng lại lắc lọ.

Lúc đầu thì rược có màu trắng rồi sang màu vàng, đến ngày thứ 15 thì chuyển sang màu vàng nghệ. Uống 2 thìa nhỏ mỗi ngày vào sáng trước khi ăn và tối trước khi ngủ.